Thứ Tư, 31 tháng 10, 2012

Hình ảnh hoạt động âm nhạc của nhạc sĩ Hùng Lân - Hung Lan Musical Activities Pictures

Picture 001: Student at Gendreau - 1928 - Hùng Lân ( 2nd from the left)


Picture 002: Lê Bảo Tịnh Musical Association - 1945 - Hùng Lân (standing: 3 rd from the left)


Picture 003: Lê Bảo Tịnh Musical Association - 1945 - Hùng Lân(sitting: the 1st from the left)


Picture 004: Music Support Association (May 1950)


Picture 005: Music Support Association (May 1950)


Picture 006: Marriage Cermony on March 26 th, 1951 at Ha Noi Cathedral


Picture 007: Music Professor at Ha Noi Chu Van An college - Hùng Lân (sitting next to the elderly man wearing a black áo dài)


Picture 008: Music Professor at Ha Noi Chu VAn An college - Hùng Lân (the 6 th from the left)


Picture 009: Popular Dancing & Singing College (June 9th 1956)


Picture 010: Duc Ba Saigon Cathedral Choir Practice (02/11/1956)


Picture 011: Duy Linh Culture Civilization Asscociaton (1956)


Picture 012: Popular Dancing & Singing College (1957)


Picture 013: Thiên Thanh Choir (1957)


Picture 014: Thiên Thanh Choir (1957)


Picture 015: Hùng Lân music class at Cecilia College (Aug, 14 th, 1959)


Picture 016: National Conservatory College Bính Ngọ Lunar New Year (Jan. 15 th, 1966) Hùng Lân (Line No.1, the 2nd from the right)


Picture 017:National Conservatory College bính Ngọ Lunar New Year (1966) - Hùng Lân (Line No.2, the 1 st from the right)


Picture 018: Duy Linh Culture Civilization Association


Picture 019: Duy Linh Culture Civilization Association


Picture 020: Conductor for Church Choir at St. Vincent Church No. 42 Tú Xương Street, Dist. 3

Picture No 21: Văn Công Chí Linh Choir

Picture No 22: Hoa Sim Group Establishment

Picture No 23: Princess thùy Trang Musical Drama at Regina Mundi College - Hùng Lân (the 2nd wearing glasses)

Picture No. 24: Attended a TV & Radio Broadcasting Course at Syracuse USA (1967 - 1968)

Picture No. 25: Attended a TV & Radio Broadcasting Course at Syracuse USA (1967 - 1968)

Picture No. 26: Tinh Việt Culture Group
Picture No 27: Tinh Việt Culture Group

Picture No. 28: Conductor for "Tìm Hiểu Dân Ca Việt Nam"
Picture No.29: Music Prof at Pedagogy University, Dalat Institute (20/12/1973)

Picture No.30: Conductor in "Dòng Anh Em Hèn Mọn" 50 th Anniversary Mass (06/10/1979)

Picture No. 31: Religious Ceremony "60 yrs praising God "organized at Dakao Francis Church (27/06/1982)

Picture No. 32: Religious Ceremony "60 yrs praising God" organized at Dadao Francis Church (27/06/1982)


Picture No.33: Religous Cermony on "the 25 th Anniversary of Dakao Francis Church Choir " (05/09/1982)

Picture No. 34: Hung Lan last picture in a Catholic Intimate gettother (Sep. 6th, 1986)



















Chủ Nhật, 30 tháng 9, 2012

Hùng Lân "Đêm Thánh Vô Cùng" - Nguyễn Bách


Mặc dù trong số báo “Tuổi Trẻ Chủ Nhật”, số Tất Niên 2001 chúng tôi đã có may mắn là người đầu tiên giới thiệu về Hùng Lân- một nhà sư phạm âm nhạc lớn của Việt Nam với độc giả cả nước sau năm 1975, nhưng chúng tôi vẫn luôn áy náy vì nhiều yếu tố khách quan, không giới thiệu được những nét độc đáo khác của người nghệ sĩ đa tài này, nhất là trong lãnh vực âm nhạc tôn giáo. Nhân dịp Giáng Sinh – mùa của âm nhạc thánh – gần đến, chúng tôi xin được giới thiệu với qúy độc giả về Hùng Lân – tác giả của lời Việt tuyệt vời cho bài thánh ca Giáng sinh bất hủ: Đêm thánh vô cùng(Stille Nacht, Heilige Nacht hay Silent Night, Holy Night).

Tiểu sử:
Hùng Lân (tên thật là Hoàng Văn Hương sinh ngày 23/6/1922 tại phố Phủ Doãn (Hà Nội), là người con thứ tư trong số 11 người con của ông Hoàng Văn Thiện lập gia đình với bà Nguyễn Thị Nhạ, người Phủ Lý (Hà Nam).

Từ năm  8 tuổi, Hùng Lân học ở trường tiểu học Gendreau (năm 1950 đổi tên thành Dũng Lạc, hiện nay là trường Hoàn Kiếm, phố Nhà Chung, Hà Nội) và trường các Sư Huynh Dòng La-san Puginier. Ở đó, ông bắt đầu học nhạc với Lm. P. Dépaulis và được tuyển vào ban hợp xướng của nhà thờ lớn Hà Nội. (Một cách tiếp xúc ban đầu với âm nhạc thường gặp ở các nhà soạn nhạc của âm nhạc kinh điển trên thế giới). Từ 1934 đến 1945, Hùng Lân tiếp tục học nhạc với Lm J.Bouis tại chủng viện Hoàng Nguyên, rồi sau đó là đại chủng viện Xuân Bích (Saint Sulpice). Liên tiếp trong hai năm 1945 - 46, thân mẫu rồi đến thân phụ của Hùng Lân qua đời. Đây là nguyên nhân chính khiến Hùng Lân rời bỏ việc học ở đại chủng viện để có điều kiện lo lắng cho cả nhà vì ông là chỗ dựa của gia đình lúc bấy giờ, khi các em còn nhỏ. Bút hiệu “Hùng Lân” được ghép từ hai  tên của người em thứ năm và thứ tám của ông cho thấy Hùng Lân rất thương yêu các em mình. Ngoài bút hiệu này, trong lãnh vực thánh ca ông còn dùng tên hiệu: “Nam Hoa”, “Lâm Thanh” cho các sáng tác của mình.

Khoảng 1930 -1940, trong các nhà thờ chỉ hát những bài La-tinh trong sách Paroissien Romain và các bài hát tiếng  Pháp trong Cantique de la Jeunesse. Họa may một số bài được dịch sang tiếng Việt, nhưng vẫn theo nốt nhạc Tây. Đã đến lúc phải sáng tác những bài hát Việt Nam. Hùng Lân và nhóm sinh viên đại chủng viện Xuân Bích Hà Nội đã nghĩ đến việc sáng tác những bài thánh ca Việt Nam theo thể loại mới. Từ đó, vào tháng 7 năm 1945, Nhạc đoàn Lê Bảo Tịnh được thành lập, do ông làm Đoàn trưởng. Tính đến năm 1974, nhạc đoàn này đã xuất bản 16 tuyển tập thánh ca của nhiều tác giả mang nhan đề chung: Cung Thánh. Riêng Hùng Lân còn cho xuất bản 3 tập thánh ca  Ca Vang Lời Chúa 1, 2, 3.

Hùng Lân dạy học ở trường Kẻ Giảng (Kẻ Sở - tức Ninh Phú, cách Phủ Lý chừng 5, 6 cây số). Trong nhà thờ vùng đó, có một cây quản cầm (harmonium) rất tốt. Đó chính là người bạn thân của Hùng Lân trong suốt hai năm 1945 - 1946 và là nơi ông khai sinh ra nhiều bài hát nổi tiếng khác. Có lẽ hoàn cảnh lúc này của Hùng Lân có nhiều điểm giống với thầy giáo nhạc sĩ Franz Xaver Gruber (1787-1863, người Áo), đồng tác giả với cha xứ Joseph Mohr của bài hát giáng sinh nổi tiếng nhất thế giới: Stille Nacht, Heilige Nacht (Silent Night, Holy Night), nên ông đã là người đầu tiên viết lời Việt cho bài ca Giáng sinh đó, dưới tên gọi:  Đêm thánh vô cùng. Đây cũng là bài thánh ca tiếngViệt được nhiều người ngoại quốc hát, đặc biệt vào mỗi mùa Giáng sinh. Năm 1948, Hùng Lân dạy âm nhạc ở trường Chu Văn An (Hà Nội). Năm 1949, sách dạy âm nhạc khai tâm và sơ đẳng gồm hai tập, mang tên: Cây đàn sống được NXB Thế  giới, Hà Nội ấn hành. “Bộ sách giáo khoa âm nhạc cho lớp đệ Thất, đệ Lục, đệ Ngũ, đệ Tứ” (tức các lớp phổ thông cấp II ngày nay) cũng được  nhà xuất bản này cho ra đời trong năm 1952, 1953. Có thể nói ông là người đầu tiên soạn sách giáo khoa dạy âm nhạc trong nhà trường phổ thông.

Sau khi vào miền Nam, quê hương gốc của ông, năm 1956, Hùng Lân là một trong những người tham gia sáng lập Trường Quốc gia Âm nhạc và Kịch Nghệ Sài Gòn (hiện nay là Nhạc Viện TP. Hồ Chí Minh). Ở đó, năm 1957, ông được bổ nhiệm dạy về “nhạc Pháp” (tức Ký-xướng-âm). Sau khi tốt nghiệp Cử Nhân Giáo khoa Văn Chương Pháp ở Đại học Văn Khoa Sài Gòn (nay là Đại học Khoa học Xã hội và Nhân Văn) vào năm 1963, Hùng Lân về làm việc tại Trung Tâm Học Liệu (trên đường Trần Bình Trọng). Năm 1965, ông được đề cử phụ trách khâu Phát thanh Học đường và đi tu nghiệp về Giáo dục và Truyền thanh tại đại học Syracuse, tiểu bang New York (Hoa kỳ) vào năm 1967 -1968. Sau khi trở về Việt Nam, ông chính là tác giả của chương trình “Đố vui để học” đầu tiên do Trung tâm Học liệu phát hình năm 1969 đến ngày miền Nam được hoàn toàn giải phóng. Hùng Lân còn đóng góp nhiều cho việc nghiên cứu âm nhạc dân tộc Việt Nam qua công trình Tìm hiểu Dân ca Việt Nam được dùng để giảng dạy tại Viện Đại học Đà Lạt từ niên  khoá 1972-1973. Trong đó, có phần nghiên cứu độc đáo về “Âm nhạc trong tiếng rao hàng”. Cũng trong thời gian này, ông soạn cuốn Sư phạm Âm nhạc Thực hành dùng cho chương trình đào tạo các giáo viên tiểu học (cấp I). Ở miền Nam, ông còn cùng với linh mục nhạc sư  Tiến Dũng thành lập trường âm nhạc BACH (ít lâu sau đổi tên thành trường Suối Nhạc – không phải hệ thống trường Suối Nhạc ngày nay) để đào tạo các nhạc sĩ trẻ tuổi tại Sài Gòn. Những sáng tác của ông lúc này thấm nhuần âm điệu Việt Nam.

Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, Hùng Lân dạy nhạc tại tư gia trên đường Nguyễn Văn Thủ, Q. I, TP. HCM. Với tâm huyết của một nhà giáo, với lòng nhiệt thành và say mê âm nhạc của một nhạc sĩ - nghệ sĩ, ông vẫn âm thầm cống hiến cho nền giáo dục âm nhạc và âm nhạc dân tộc của đất nước. Báo Thanh Niên, số Cuối năm1989, tuần lễ từ 31/12/1989 đến 7/1/1990 đã ghi nhận như sau  trong mục ”Guinness Việt Nam, ở trang 2: “Người tham khảo tài liệu nhiều nhất để soạn nhạc lý, một trong những người đó là nhạc sĩ Hùng Lân (TP. HCM) đã tham khảo 77 tài liệu âm nhạc trong và ngoài nước (Liên Xô, Pháp, Bỉ, Mỹ, Úc, Philippine,…) để nghiên cứu đề xuất một phương pháp mới dạy nhạc cho thanh niên vào năm 1979”. Hùng Lân qua đời vào ngày 17/9/1986 vì trọng bệnh và tuổi già sức yếu trong niềm thương tiếc của gia đình, bạn hữu và nhiều thế hệ học trò. Ông để lại trên 900 tác phẩm âm nhạc bao gồm các sáng tác và biên soạn.

Ông là một trong những nhà sư phạm âm nhạc đầu tiên của nền Tân nhạc Việt Nam. Quả thật, đã có khá nhiều nghệ sĩ, nhạc sĩ nổi tiếng đã từng học với Thầy Hùng Lân. Trong số đó: ca sĩ Hồng Vân, Quý Dương, Nhà giáo Ưu tú - nghệ sĩ đàn tranh Phạm Thúy Hoan,… Nhân dịp nghe Giáo sư - nhạc sĩ Hoàng Đạm giới thiệu về bản fugue 3 bè mới viết cho piano của mình, có tên:  Khát vọng, chúng tôi được nghe tâm sự: “Chủ đề của bài fugue này được lấy từ một giai điệu trong bài  Nguyện Xin mà tôi còn nhớ được trong những ngày theo học NS. Hùng Lân, người thầy âm nhạc đầu tiên của tôi, về môn Ký xướng âm tại Hội Khuyến nhạc Hà Nội. Đây cũng là lớp Ký xướng âm đầu tiên của Hội. Đó là một giai điệu đẹp nhất mà tôi được biết cho đến nay”. Hùng Lân chỉ huy ca đoàn Lộ Đức (Cầu Mới, Tân Định) tại nhà thờ Pha-xi-cô Đa-Kao. Cũng tại đây vào tháng 9 năm 1986, chúng tôi đã điều khiển ca đoàn này hát lễ an táng cho ông.

Về bài thánh ca bất hủ "Đêm thánh vô cùng":

Tuy có một số tác giả đã viết lời Việt cho bài thánh ca Giáng sinh tuyệt vời: Stille Nacht, heilige Nacht (Silent Night, Holy Night), nhưng Đêm Thánh vô cùng của Hùng Lân là hay nhất và được biết đến nhiều nhất, đối với người Việt Nam lẫn ngoại quốc. Cho đến nay người ta vẫn không tìm được thủ bản chính của bản thánh ca giáng sinhnày. Nhưng ai cũng biết rằng nó được sáng tác bởi 2 người bạn: linh mục Joseph Mohr và thầy dạy nhạc Franz Xaver Gruber ở một ngôi nhà thờ làng nhỏ bé vùng Salzburg (nước  Áo, trong lịch sử đã có thời thuộc Đức). Trong 10 năm sống tại Tây Đức, chúng tôi đã có cơ hội được sống và làm việc tại vùng Salzburg trong 3 tháng. Thời gian đó đủ để sưu tập được một số chi tiết mà trước đây mình chưa biết hoặc biết không đúng về sự ra đời của “Stille Nacht, heilige Nacht”

Bài hát này ra đời vào mùa Giáng sinh năm 1818 tại nhà thờ Thánh Nicolas thuộc làng Obendorf gần Salzburg sau khi cuộc chiến tranh của Napoléon đưa đến một trật tự mới cho châu Âu căn cứ theo Hội nghị Vienne. Nhà thờ này có cha Sở là linh mục Joseph Kessler, chứ không phải Joseph Mohr như người ta vẫn thường nói. Mohr là thầy sáu trong thời gian từ 1817 đến 1819. Lần đầu tiên bài hátđược vang lên trong thánh lễ đêm Giáng sinh năm đó. Thật ra, Gruber không chỉ viết bài thánh ca này theo lời thơ và đề nghị của thầy Sáu Joseph Mohr, bạn mình, mà ông đã viết trước đó, với lời ca khác, theo đề nghị của bạn bè và đồng nghiệp.Sau đó, ông mới sửa lại cho phù hợp với lời thơ của thầy sáu Mohr. Và, bản sau này đã được phổ biến nhanh chóng đi khắp nơi đến nay. Trong khoảng thời gian này, Mohr và Gruber đã trở thành đôi bạn thân thiết, có thể vì có điểm giống nhau: say mê âm nhạc. Mohr đã từng là thành viên trong ban hợp xướng và là tay đàn violon của Đại học Thần học Thánh Phê-rô. Gruber là thầy giáo dạy nhạc, nghệ sĩ đàn orgue cho nhà thờ Thánh Nicolas từ 1816 đến 1829.

Chỉ trước ngày 24 tháng 12 năm 1818 không lâu, Joseph Mohr đề nghị Franz Xaver Gruber sửa lại giai điệu cho thích hợp với lời thơ của mình để dùng bài hát trong việc mừng Đêm Thánh. Gruber đã soạn lại cho 2 giọng solo và hợp xướng với phần đệm bằng đàn guitar.

Sau lễ Giáng sinh năm đó, bài thánh ca này nhanh chóng được phổ biến ở nhiều nơi trên nước Đức và vượt biên giới nước này sang Mỹ, Anh, Na-Uy, v.v… Chúng tôi đã thu thập được hơn 30 bài thánh ca với 30 thứ tiếng địa phương khác nhau..

Như đã nói, có nhiều thủ bản của “Stille Nacht, Heilige Nacht” nhưng người ta vẫn xem bản viết ở cung Ré Trưởng, nhịp 6/8, có 6 lời, được viết vào năm 1818 là bản chính gốc.

Nguyễn Bách 

(Nguồn: Báo Âm Nhạc Việt Nam số 6-12/2009)

NSND Quý Dương nhớ tuổi trẻ, học đường…


Xin giới thiệu đôi lời tâm sự của người nghệ sĩ nổi tiếng này với những kỷ niệm khó phai  về tuổi thơ của ông ở trường Chu Văn An do đồng môn Nguyễn Lương Phán ghi lại. 



NSND Qúy Dương - bức ảnh do nhạc sĩ Phan Huỳnh Điểu chụp

Những năm tháng học tại trường Bưởi đã cho tôi biết rất nhiều thứ

Ngày xưa, vào đầu những năm 50, trường Bưởi lúc đó bị Tây chiếm, toàn bộ học sinh trường Chu Văn An thời bấy giờ phải học ở trường Đỗ Hữu Vị, Cửa Bắc. Nhà tôi ở Văn Miếu, cứ hàng ngày đi bộ qua Nguyễn Thái Học, Hoàng Diệu, rồi ra Cửa Bắc. Tôi nhớ nhất là kỷ niệm khi Tây rút đi, trả lại trường Bưởi, toàn bộ học sinh của trường Đỗ Hữu Vị kéo xe bò chở bàn ghế, bảng…từ trường Đỗ Hữu Vị sang trường Bưởi. Đó là một ngày rất vui. Tôi thuộc thế hệ học sinh chuyển giai đoạn đó của trường Chu Văn An. Tôi đã trải qua hai năm đệ tam và đệ nhị ở trường Bưởi. Đến năm 1954, khi tôi chuẩn bị chuyển sang học lớp đệ nhất thì hệ thống học mới của kháng chiến về, lớp đệ nhất đổi tên thành lớp 10.

Những năm tháng học tại trường Bưởi đã cho tôi rất nhiều thứ : Trình độ toán, vì tôi học lớp toán, trình độ tiếng Anh trình độ tiếng Pháp  và trình độ tổ chức cuộc sống. Ở thời của tôi, mọi người nói tiếng Anh và tiếng Pháp rất giỏi vì chúng tôi được học ngoại ngữ một cách quy củ. Mỗi tuần có tận 3 buổi học, Pháp văn và cũng ngần buổi học Anh văn. Chúng tôi học nghiêm túc đến nỗi, sau này, khi công tác tại nhà hát vũ kịch, khi tiếp xúc với các chuyên gia nước ngoài, tôi vẫn có thể trò chuyện với họ bằng tiếng Anh, tiếng Pháp. Tôi nhớ thầy giáo dạy tiếng Pháp của tôi lúc đó là thầy Hưởng và thầy Bách. Dạy tiếng Anh là thầy Tòng. Các thầy ấy bây giờ đều không còn nữa, nhưng tôi vẫn nhớ, vì các thầy dạy chúng tôi rất nhiệt tình và tâm huyết.

Rồi, cũng thật đáng nhớ, những ngày Thủ đô mới giải phóng, cứ thứ 7 hàng tuần, học sinh các trường ở Hà Nội nô nức đi lao động XHCN, công việc chủ yếu là đắp đường tại công trường Yên Phụ. Đối với tuổi trẻ học sinh Thành phố, lúc bấy giờ lao động XHCN là cuộc thi đua đầy hào hứng. Chúng tôi đẩy xe ba gác chuyển đất từ ngoài đê Yên Phụ vào đổ cơi nới cho đường Cổ Ngư chạy giữa Hồ Tây và hồ Trúc Bạch, xây dựng lên con đường Thanh Niên ngày nay. Đó còn là công viên Thống Nhất, hồ bảy mẫu… Tất cả những công trình đó đều in dấu và thấm mồ hôi của học sinh trường Bưởi.

Nhớ về trường Bưởi tôi nhớ nhất những hàng cây cổ thụ bóng lá xum xuê mà chúng tôi vẫn thường hay chơi đá cầu dưới tán lá xanh mát rượi. 

NSND Qúy Dương (thứ 2, phải sang) chụp ảnh cùng bạn bè


Tôi và anh Trần Hiếu là hai người bạn thân học chung một lớp 

Năng khiếu âm nhạc của tôi được phát triển từ hồi còn học ở Đỗ Hữu Vị, khi tất cả học sinh chúng tôi được học âm nhạc của thầy Hùng Lân, thầy Hùng Lân dạy rất hay, rất nhiệt tình, tận tụy. Một lớp của tôi những 50 học sinh, trong giờ giảng của mình, thầy giáo tuy không thể có thời gian dành riêng cho một học sinh, nhưng âm nhạc và những lời dạy của thầy cứ thấm dần vào tôi khiến tình yêu âm nhạc trong tôi ngày một lớn.

Thời đi học tôi và anh Trần Hiếu là hai người bạn thân. Vừa học cùng lớp, lại sẵn có khả năng âm nhạc, chúng tôi gắn bó với nhau suốt thời tuổi trẻ. Tôi còn nhớ, hồi học ở Đỗ Hữu Vị, trong trường có những học sinh kháng chiến. Họ hoạt động bí mật, rải truyền đơn. Thỉnh thoảng lại thấy có mật thám vào lớp bắt một vài học sinh. Tôi không hình dung được kháng chiến nó thực sự là thế nào, mà chỉ lơ mơ biết qua những hình ảnh như vậy. Đến khi chuyển sang trưởng Bưởi, tôi và Trần Hiếu được những sinh viên kháng chiến ấy cho gia nhập đoàn thanh niên cứu quốc. Chúng tôi đóng góp vào sự nghiên cứu quốc bằng cách hát những ca khúc Cách mạng. Tôi hay tham gia hát trong các buổi văn nghệ, hát đơn ca, hoặc là song ca với Trần Hiếu, hát những bài hát đầy khí thế thời bấy giờ như “Khi đi ta ở lại nhà”, “Đỉnh núi Lê Nin” … năm 54, tôi còn được tham gia hát chào đón đoàn giải phóng.

Thời trung học chuyên khoa, tại Hà Nội có ba trường lớn là trường Bưởi, trường Nguyễn Trãi, trường Trưng Vương. Trường Trưng Vương chỉ dành cho nữ sinh. Ba trường này hay có những hoạt động giao lưu với nhau, cứ thỉnh thoảng đến các dịp lễ, tết là tất cả những học sinh hay hát của ba trường lại hợp nhau thành một dàn đồng ca lớn. Tôi thường được cử làm chỉ huy đội đồng ca.

Sau đó, tôi, Trần Hiếu cùng một số người đã lập nên ban nhạc Tuổi xanh gồm khoảng 50 người, gồm những người yêu nhạc của ba trường Chu Văn An, trường Nguyễn Trãi, trường Trưng Vương, mỗi chiều chủ nhật lại họp nhau sinh hoạt tại số 5 Nguyễn Thượng Hiền. Ban nhạc Tuổi Xanh cùng nhau ngân nga các bài đồng ca, hòa bình ca… cũng là những vốn liếng đã học được dưới mái trường Chu Văn An. Ban nhạc Tuổi Xanh khi đó nổi tiếng đó nổi tiếng lắm, ai cũng biết. Bấy giờ các thành viên của ban nhạc tuổi xanh đều sấp xỉ 70, khi tôi vào Sài Gòn vẫn còn gặp lại một số người.Chúng tôi nhận ra nhau và trò chuyện rất vui vẻ như hồi nào.

Sau khi học xong cấp III Chu Văn An, tôi và anh Trần Hiếu rủ nhau thi vào trường âm nhạc Việt Nam (Nhạc viện Hà Nội). Chúng tôi cũng là những học sinh khóa đầu tiên của trường này, đã cùng nhau phấn đấu hết mình cống hiến cho sự nghiệp âm nhạc, sau này anh Hiếu vào Namnhưng chúng tôi vẫn giữ liên lạc thường xuyên. Điều đặc biệt là hai chúng tôi được phong Nghệ sĩ nhân dân vào cùng một ngày.

Có thể nói, tôi và anh Hiếu là hai người tương đối thành công trong lĩnh vực âm nhạc trong các lứa học sinh của trường Chu Văn An. 

Gặp lại thầy Hùng Lân 

Tôi có một kỷ niệm rất thú vị về thầy Hùng Lân. Năm 1954 thầy Hùng Lân chuyển vào sống tại miền Nam. 21 năm sau, tức là năm 1975, tôi vào Sài Gòn biểu diễn chào mừng Miền Nam Giải phóng, hôm đó, chúng tôi đang say sưa bài hát “Ta tự hào đi lên ôi Việt Nam” tại sân khấu nhà hát Thành phố Sài Gòn thì bỗng thấy dáng ai như dáng thầy Hùng Lân ngồi ở hàng ghế khán giả, thứ 5, 6. Và ông già đeo kính ngồi đang trầm ngâm nghe nhạc đó theo suy đoán của tôi chính là thầy Hùng Lân chứ không phải ai khác. Đứng trên sân khấu nhìn thầy thật khó kìm được cảm xúc.

Khi buổi biểu diễn kết thúc tôi đi vòng xuống dưới, đón đầu đoàn người đi ra
Thấy thầy, tôi tiến đến chào và hỏi :” Thầy giáo có nhận ra em không ạ?”
Thầy lắc đầu : “Xin lỗi, tôi không nhận ra anh là ai cả”.
“Thầy ơi, em là học trò cũ của thầy, em trưởng thành được cũng là nhờ công lao thầy dạy dỗ!”
Thầy giáo mới hỏi địa chỉ của tôi. Một tuần sau, thầy đến chỗ tôi và tặng tôi một chồng sách về âm nhạc mà thầy vốn rất nâng nii, trân trọng, như vật báu bất ly thân.
Sau lần đó, tôi không có dịp gặp lại thầy. Bây giờ thì thầy đã mất rồi, tôi nghĩ, chắc thầy cũng rất tự hào khi biết mình đã đào tạo ra một học sinh “Cộng Sản” sau này trưởng thành đã có nhiều cống hiến đóng góp cho nền âm nhạc nước nhà.

Bài “Khỏe vì nước” là một sáng tác của thầy Hùng Lân, sau này được dùng cho nhạc kèn trong các hoạt động thể thao của cả nước. Thầy mà biết chắc cũng tự hào lắm. Giờ đây, bài hát “ Hè về” lại được các cháu học sinh cất lên từ Nam chí Bắc, mỗi lần nghe, tất cả thế hệ chúng tôi không khỏi nhớ đến người thầy kính yêu - Nhạc sĩ Hùng Lân. 

NSND Quý Dương

Theo gương các thầy: Dạy hết mình 

Từng là giám đốc nhà hát vũ kịch Việt Nam, là giảng viên nhạc viện Hà Nội, tôi đã dạy rất nhiều thế hệ học sinh. Có những người đã trưởng thành, NSND như Doãn Tần, Trung Đức. Có những người đã là NSƯT, hay những người dù chưa được làm NSƯT nhưng cũng rất giỏi, học trò của tôi đều yêu quý tôi, và tôi cũng vậy. Bởi tôi tâm niệm, dạy là phải hết mình, dạy nhiệt tình và bằng hết tấm lòng của mình.

Ngày 20/11 năm nào cũng vậy, học sinh đến thăm tôi rất đông. Có những học trò của tôi chỉ là những người công nhân bình dị. Họ yêu âm nhạc nhưng không đi theo con đường nghệ thuật. Tôi vẫn dạy nhạc cho họ như dạy cho các học trò khác của mình. Và  họ rất yêu quý tôi. Thỉnh thoảng, họ vẫn đến nhà thầy giáo chơi. Tôi cảm thấy rất quý cái tình cảm chân thành đó.

Nhờ được học những thầy cô giáo tốt mà học sinh trường Chu Văn An thành đạt rất nhiều. Trường Chu Văn An đã sản sinh ra nhiều người tài cống hiến cho đất nước trong nhiều lĩnh vực.

Khóa Chu Văn An của tôi năm nào giờ vẫn giữ mối liên lạc thường xuyên với nhau, chúng tôi chụp ảnh cùng nhau, vừa lập cả danh sách ghi tên, địa chỉ, số điện thoại, của từng người. Cũng được khoảng 60 người. Năm nào cũng thế, cứ chủ nhật đầu tiên sau tết là chúng tôi lại tụ tập tại nhà một người nào đó. Nhưng mỗi năm lại nghe tin một, hai người vừa rời xa chúng tôi, xa cõi đời này….

Nguyễn Lương Phán

(Nguồn:  http://dantri.com.vn/su-kien/nsnd-quy-duong-nho-tuoi-tre-hoc-duong-494601.htm)