Thứ Năm, 6 tháng 9, 2012

Bài viết về Nhạc Sĩ HÙNG LÂN - Tuyết Hằng



Ngaøy 23/09/2001

BÀI VIẾT VỀ NHẠC SĨ HÙNG LÂN 

Khi đặt bút viết về cố nhạc sĩ Hùng Lân, tôi tự nhủ: “Biết viết gì về thầy đây?”. Nhạc sĩ Hùng Lân còn là giáo sư dạy nhạc lý tại trường Quốc Gia Âm Nhạc và Kịch Nghệ Việt Nam trước 1975.

Về đời tư của thầy, tôi không được biết nhiều. Chỉ biết tên thật của thầy là Hoàng Văn Hương, có gia đình với 7 người con xinh xắn , thông minh, 1 trai, 6 gái, đã biết điều khiển ca đoàn hát lễ ở nhà thờ! Phu nhân của thầy rất điềm đạm, hiểu rộng, vừa đẹp vừa có giọng hát hay, rất dễ thương, theo lời ông Trần Văn Khê thì khi chưa có gia đình, lúc trẻ, vào năm 1943, bà là người đầu tiên, đã cùng với 2 thiếu nữ khác, đi tiên phong, lên sân khấu Hà Nội, đưa ra lối trình diễn mới, trong một vở THI CA NHẠC KỊCH lớn tại Hà Nội.

Nếu nói về các tác phẩm nổi tiếng của nhạc sĩ Hùng Lân, thì tôi vẫn còn nhớ được một số bài về tân nhạc, cũng như thánh ca, và ca nhạc nhi đồng nữa. Đặc biệt 1 điều là nhạc sĩ Hùng lân đã sáng tác thánh ca rất nhiều. Tôi còn nhớ một số bài rất phổ thông được hát trong các thánh lễ như: Lên núi Sion, Cao Vời Khôn Ví, Nhớ ngày năm xưa, Kính chào Nữ Vương, Chúa sống trong Tôi, Bài ca Vạn Vật, Thắp ngọn nến hồng, Chúa có mặt  trong lịch sử v.v…

Nói về tân nhạc của ông, thì chắc chưa ai có thể quên được. Đường lối sáng tác thật trong sáng, xây dựng, nội dung rất lành mạnh, phản ánh lòng yêu nước, bổn phận công dân, khơi dậy chí khí anh hùng dân tộc. Chẳng hạn như vài nhạc phẩm bất hủ sau đây: Việt Nam Minh Châu Trời Đông, Rạng Đông (bài này được giải nhất, nhì toàn quốc vào năm 1943-1944), Khỏe vì nước, Hè về, Cô gái Việt, Ca Xuân Hẹn Ước, Trăng lên, Cầu nguyện, Thành xưa, Dâng thơ, Lắng nghe, v.v…Ngoài ra ông còn có nhiều nhạc phẩm sáng tác dựa theo ca dao Việt Nam rất lôi cuốn người nghe, vì ca dao Việt Nam đã phản ánh được đời sống nhọc nhằn của dân quê, mô tả lại những sinh hoạt của dân ta hằng ngày trên ruộng lúa, nương khoai. Cadao ngoài ra còn làm sống lại những tình tứ mộc mạc đơn sơ, rất dễ thương của dân ta quanh quẩn bên cây đa, đình làng từ thuở xa xưa…Và cũng vì ca dao Việt Nam còn cho thấy được phong tục tập quán của Việt Nam cho nên các nhạc phẩm sau đây của nhạc sĩ Hùng Lân được dân ta đón nhận một cách đặc biệt như: bài: Quả cau, Duyên tình miềm Nam, Khêu ngọn đèn loan, Cái cò lặn lội bờ sông v.v…

Nhạc nhi đồng của nhạc sĩ Hùng Lân thì chắc các em bé biết nhiều hơn tôi, nhưng chắc chắn là dù người lớn hay trẻ em, ai cũng phải thuộc 1 só bài sau đây, chẳng hạn như: em yêu Ai?, Thằng Tí sún, Vỗ tay, Hỏi tên, Hoan Ho, Hò Ba Lý, Mừng Gặp nhau, Rừng già, Làm quen, Tay xiết chặt bàn tay, Nở một nụ cười, v.v…

Viết đến đây thì tôi chợt nhớ là thầy Hùng Lân ít khi nào cười lắm, mặc dù chỉ cười mỉm, hoặc cười nửa nụ thôi!.Giáo sư Hùng Lân là một nhà mô phạm đạo đức (thật), kỹ lưỡng ngă nắp, mà nhất là rất nghiêm nghị! Đôi khi có thể là nghiêm khắc nữa. Có lẽ nhờ vậy mà môn sinh của thầy mới nể sợ, nên cố gắng chăm học, riêng cá nhân tôi, chẳng những học chăm, mà là học rất kỹ, lý do vì suốt 4 năm dài đèn sách ở Viện Quốc Gia Âm Nhạc & Kịch Nghệ Việt Nam, chưa có lấy 1 ngày nào mà thầy Hùng Lân không khảo tôi về nhạc lý. Lúc bấy giờ tôi nghĩ rằng thầy không thích ca sĩ, nên tôi bị thầy quay quá kỹ…Thầy Hùng Lân thường phàn nàn :“Các ca sĩ, nhất là ca sĩ phòng trà, không hát đúng nốt nhạc, cứ hay láy, uốn éo, làm thay đổi nốt nhạc, không tôn trọng giá trị của nốt nhạc !” Có lẽ thầy không mấy tin tưởng vào ca sĩ!

Tôi và nữ ca sĩ Quỳnh Giao (Ai nữ của nhạc sĩ Dương Thiệu Tước và ca sĩ Minh Trang) vào Quốc Gia Âm Nhạc viện & Kịch Nghệ học cùng một thời, và cô cùng hoàn  cảnh tương tự : là ca sĩ trước khi vào Âm Nhạc Viện học nhạc…

Sau vài tháng , thầy nhận thấy tôi cố gắng học hành, và có giọng soprano, thầy cho tôi vào hát trong ban Thiên Thanh hàng tuần trên đài phát thanh Tiếng Nói Quân Đội. Sau đó, tôi đã chính thức hát cho thầy Hùng Lân trong hầu hết các chương trình nhạc trên đài phát thanh cũng như trong các thánh lễ ở giáo đường. Đã cộng tác với thầy trong nhiều chương trình nhạc, nhưng tôi thích nhất là chương trình “Tìm Hiểu Dân Ca, Dân Nhạc” của thầy, được thu thanh cho đài Tiếng Nói Tự Do, tức là VOF trước năm 1975. Trong chương trình này, tôi được đọc dẫn giải, và hát nhạc của thầy để dẫn chứng về ca dao, phong dao và đồng dao. Nhờ chương trình này mà tôi được biết, và yêu mến dân ca cổ truyền hơn hết tất cả. Và cũng để tiếp tay với các bậc tiền bối trong việc duy trì và phổ biến dân ca cổ truyền, tôi đã thành lập một ban tam ca, tên là Đông Phương. Ban tam ca Đông Phương chuyên trình bày dân ca cổ truyền Việt Nam, đặc biệt là có phần hòa âm cho ba giọng nữ. Từ trước dân ca cổ truyền chỉ được trình bày đơn điệu mà thôi. Cũng vì tính cách độc đáo này, và nhờ vào lối trình diễn mới mẻ, sống động của ban Đông Phương, đồng bào đã đón nhận ban này một cách nồng nhiệt. Lần đâu tiên, ban Đông Phương đã đem dân ca cổ truyền Việt Nam vào sân khấu phòng trà Đêm Màu Hồng do nhạc sĩ Phạm Đình Chương điều hành, trình diễn độc quyền hằng đêm cho đến năm 1975, Ban nhạc Đông Phương cũng đã được chấm giải Nhất trong kỳ thi Dân Ca cỗ truyền Đông Nam Á do Đài Loan tổ chức vào năm 1970 – 1971. Đây cũng là một niềm vui khá lớn cho người Việt, nhờ dân ca cổ truyền niềm hãnh diện dân tộc, vàcũng là nhờ thầy trước tiên. Thầy đã dạy dỗ, và cho tôi có dịp làm quen với dân nhạc!

Tuy giáo sư Hùng đã bỏ lại tất cả để vĩnh viễn ra đi, nhưng những nhạc phẩm giá trị thầy để lại, cùng những thành công tốt đẹp do các môn sinh của thầy thì luôn được, đã và đang là mối dây liên lạc mật thiết với thầy, như những nốt nhạc luân lưu trong tim óc, trong huyết quản của mọi người Việt Nam. Xin tri ân và tưởng nhớ đến Thầy.

Môn sinh của Giáo Sư Hùng Lân
Cựu Nữ sinh viên Quốc Âm Nhạc & Kịch Nghệ Việt Nam 
Tuyết Hằng

Thứ Ba, 4 tháng 9, 2012

Tiểu sử giáo sư Hùng Lân



Nhạc sĩ Hùng Lân

PHÊRÔ HOÀNG VĂN HƯƠNG
1922 – 1986

Bút hiệu   HÙNG LÂN
NAM HOA       : Ý là hoa miền Nam
LÂM THANH : Tiếng ca trong rừng

THÂN THẾ VÀ SỰ NGHIỆP


  1. CUỘC ĐỜI:

23/06/1922         Sinh tại Hà Nội, Bắc Việt. Tên thật là HOÀNG VĂN HƯƠNG. Thứ 3 trong một gia đình công chức có 9 anh chị em.
1928 - 1933        Học sinh trường Gendreau (sau đổi là Dũng Lạc) và Puginier Hà Nội.
1931                      Được tuyển và Ca đoàn Nhà Thờ Chánh tòa Hà Nội
1934 – 1941          Trung học tại Chủng viện Hoàng Nguyễn, địa phận Hà Nội.
1942 – 1945         Đại học Công Giáo tại trường Saint-Sulpice Hà Nội. Học âm nhạc với Linh mục Jean Bouis. Điều khiển ca đoàn nhà thờ Chánh tòa Hà Nội.
1945                     Giáo sư âm nhạc trường Trung học Nguyễn Trãi, Hà Nội.
1948 – 1953          Giáo sư âm nhạc trường Trung học Chu Văn An, Hà Nội.
1953                     Nhập ngũ, phục vụ ngành Chiến tranh tâm lý tại phòng 5 Đệ Tam Quân khu, Hà Nội.
1955                      Phục vụ Đài phát thanh Quân đội Sàigon.
1955                      Giải ngũ, Trưởng ban phát thanh tại Nha Tổng Giám Đốc Thanh Niên và Thể Thao Sàigon.
1957 – 1965          Giáo sư  Âm nhạc trường Ca Vũ Nhạc Phổ Thông Sàigon. Tham dự Ban Sáng lập và Ban Giám Đốc trường Quốc Gia Âm Nhạc và Kịch Nghệ Sàigon.      
                              Giảng dạy môn Nhạc Pháp (Solfege) từ lớp Khai Tâm đến lớp Cao Đẳng Chuyên Nghiệp.
1963                                 Cử nhân Giáo khoa Văn chương Pháp, Đại học Văn Khoa Sàigon.
1964                                 Chủ sự Phòng Phát thanh Học Đường tại Trung Tâm Học Liệu Bộ Giáo Dục, Sàigon.
1967 – 1968          Tu nghiệp về ngành Giáo dục trên Truyền thanh và Truyền hình tại Đại học đường Syracuse, thuộc tiều bang New York, Hoa Kỳ.
1971                      Bội tinh Văn Hóa Giáo Dục Đệ nhị hạng.
1971                      Giáo sư Âm nhạc tại Đai học Chiến Tranh Chính Trị Đà Lạt.
1972 - 1975           Giáo sư  Âm nhạc tại Đại học Chính Trị Kinh Doanh Đà Lạt.
1975 – 1986          Nghiên cứu và giảng dạy âm nhạc tại tư gia.

Vào tháng 09 năm 1986 nhạc sỹ Hùng Lân lâm trọng bệnh, thêm vào đó vì tuổi già sức yếu. Nhạc sỹ Hùng Lân qua đời vào ngày 17/09/1986 trong muôn ngàn thương tiếc của gia đình, thân hữu và mọi người. Nhạc sỹ Hùng Lân được an táng tại Đan Viện Thiên Bình – Long Thành

 2. THÀNH TÍCH

1938                      Nhạc phẩm đầu tay:    TIẾNG GỌI LÊN ĐƯỜNG
1944                      Hai giải thưởng hạng Nhất sáng tác tân nhạc do Hội Khuyến Nhạc Hà Nội tặng: bản VIỆT NAM MINH CHÂU TRỜI ĐÔNG và bản RẠNG ĐÔNG.
1945                      Trong ban sáng lập Nhạc đoàn Lê Bảo Tịnh và làm Trưởng đoàn cho tới 1964. Xuất bản 16 tập bài hát Công Giáo nhan đề là CUNG THÁNH (trên 350 bài).
1952                      Hai giải thưởng soạn sách giáo khoa Trung học do Bộ Giáo Dục tặng (cuốn ÂM NHẠC LỚP ĐỆ  THẤT và cuốn ÂM NHẠC LỚP ĐỆ LỤC).
1957                      Tham dự Hội Nghị Âm nhạc Đông Nam Á họp tại Manilla- Phi Luật Tân.
1957 - 1970           Thành lập và làm Trưởng ban Ca đoàn Thiên Thanh hợp tác với đài Phát Thanh Sàigon và Đài Phát Thanh Quân Đội.
1965 – 1967          Trưởng ban GIỜ TẬP HÁT hợp tác với đài Phát Thanh Sàigon.
1969 – 1970          Thành lập và làm Trưởng ban ĐỐ VUI NÔNG THÔN hợp tác với đài Phát thanh Sàigon trong chương trình Phát Triển Nông Ngư Nghiệp.
1969                      Từ tháng10, thực hiện mục hàng tuần TÌM HIỂU DÂN NHẠC VIỆT NAM trên đài Tiếng Nói Tự Do. Cho tới tháng 02 – 1971 đã được 75 kỳ và còn tiếp tục.
1970                      Từ tháng 08, thực hiện chương trình TÌM HIỂU DÂN NHẠC VIỆT NAM trên đài Truyền Hình Việt Nam. Cho tới tháng 02 – 1971 đã được 8 kỳ và còn tiếp tục.
                              Ngày 15-8-1970, thực hiện chương trình Làng Văn đầu tiên với đề tài: NỀN CA NHẠC THIẾU NHI TẠI VIỆT NAM.
1971                      Hợp tác với nhà văn Phạm Đình Tân trong chương trình Văn Hóa Tinh Việt trên đài Truyền hình Việt Nam.
1971                      Giải Nhất Bộ môn Biên khảo trong cuộc thi Giải Văn Học Nghệ Thuật Toàn quốc do Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa tặng cuốn TÌM HIỂU DÂN CA VIỆT NAM.
1973                      Trưởng tiểu ban Âm nhạc trong hội đồng Cải tổ chương trình Trung học do Bộ Giáo Dục thành lập.

3. NHẠC PHẨM:

1940                      82 bài hát công giáo in trong 16 tập CUNG THÁNH.
                              43 bài tân nhạc: Việt Nam Minh Châu trời Đông, Rạng Đông, Khỏe Vì Nước, Tiếng gọi lên đường, Cô gái Việt, Mùa Hợp Tấu, Nhớ Rừng, Ca Xuân Hẹn Ứớc, Xóm Nghèo, Sầu Lữ Thứ…v.v.
                              Bài hát Thiếu Nhi: Em Yêu Ai? Thằng Tý sún, Ông Trăng Thu v.v.
                              Tập Vui Ca Lên.
Bài Đêm Thánh vô cùng – Silent night – dịch lời Việt

1969                      15 bài hát công giáo theo âm hưởng nhạc dân tộc.
                              40 bài tân nhạc theo âm hưởng nhạc dân tộc: Duyên Tình Miền Nam, Cái Cò Lặn Lội Bờ Sông, Khêu Ngọn Đèn Loan, Thằng Bờm, Gió Thu (thơ Tản Đà), Dâng thơ (thơ Phạm Đình Tân), Hò Vọng Cổ, La Hời, Hò Ới Rằng v.v. (Tất cả đã được trình bày nhiều lần trên Radio va TV).
                              Trường Ca Từ Ngày, một suy tưởng đượm sắc thái và tư tưởng Việt Nam về mầu nhiệm Chúa Giáng Sinh (12 – 1970).



4. SÁCH GIÁO KHOA:

1950                                 CÂY ĐÀN SỐNG tập I, II. Sách dạy nhạc lý Tây phương. NXB Thế giới Hà Nội.
1952                      Âm nhạc lớp Đệ Thất. NXB Trí Đức Hà Nội.
Âm nhạc lớp Đệ Lục. NXB Trí Đức Hà Nội
                              Âm nhạc lớp Đệ Ngũ. NXB Thiên Thanh Hà Nội.
                              Âm nhạc lớp Đệ Tứ. NXB Thiên Thanh Hà Nội.

1954                                 Sách hát giáo dục: HÁT MÀ HỌC, HÁT MÀ CHƠI tập 1,2,3. Tiếng Chim Xanh tập 1,2.
1959                                             Nhạc Lý Phổ Thông, soạn cho những lớp Dự bị và Sơ Đẳng trường Quốc Gia Âm Nhạc Sàigon, Huế. NXB Thiên Thanh.
1961                      Nhạc Lý Toàn Thư, soạn cho lớp Trung Đẳng, Cao Đẳng, Tốt Nghiệp Chuyên Nghiệp trường Quốc Gia Âm Nhạc Sàigon. NXB Thiên Thanh.
Giải đáp Câu Hỏi Nhạc Lý, giải đáp 400 câu hỏi kiểu mẫu bao quát toàn bộ Nhạc lý Tây Phương. NXB Thiên Thanh Sàigon.
1962                                 Nhạc Hòa Âm và Đơn Điệu, khảo luận về nhạc ngữ trong nền Dân nhạc cổ truyền Việt Nam. NXB Thiên Thanh Sàigon.
1971                      Nhạc Pháp Phổ Thông, sách dạy nhạc Lý Tây phương và Việt nam soạn cho những lớp dự bị và Sơ Đẳng trường Quốc Gia Âm Nhạc Sàigon, Huế, và những lớp 6, 7, 8, 9 bậc Trung học. NXB Thiên Thanh Sàigon.

                              TÌM HIỂU DÂN CA VIỆT NAM. Khảo luận về nhạc ngữ trong Dân ca cổ truyền Việt nam. Giải Nhất bộ môn biên khảo Giải Văn Học Nghệ Thuật Toàn Quốc 1971.
1972                      VUI CA LÊN. 100 bản đồng ca cổ truyền tân biên giáo dục Thiếu Nhi dùng làm dẫn chứng cho cuốn TÌM HIỂU DÂN CA VIỆT NAM. NXB Thiên Thanh Sàigon.
                              100 BÀI DÂN CA VIỆT NAM. Dùng làm dẫn chứng cho cuốn TÌM HIỂU DÂN CA VIỆT NAM. Đã được duyệt y.
                              DÂN CA VIỆT NAM HÒA ÂM, 100 bản dân ca ba miền được soạn thành nhiều bè, hợp soạn với nhiều tác giả, Nhiều bản đã được giải Văn Học Nghệ Thuật Toàn Quốc.

1973 - 1986           Hùng Lân đã cho xuất bản ba tập nhạc nhan đề CaVang Lời Chúa   1,2,3.
                                    Bộ lễ Bắc Ninh – Lễ thánh Mân Côi.
                                    Bộ lễ Tuyên Khấn.
                                    Nguyện Ca – XB 1974

SƯ PHẠM ÂM NHẠC THỰC HÀNH (tập 1) – XB 1974

VUI CA HỌC ĐƯỜNG – Chương Trình Phát Thanh Học Đường – XB 1975
XƯỚNG NHẠC ( Tập 1 và 2 ) – XB 1974
XƯỚNG NHẠC ( Tập 1 và 2 ) – Cải biên
Bài tập XƯỚNG NHẠC ( Tập 1 và 2 ) - – Cải biên

THUẬT SÁNG TÁC CA KHÚC – 1977.

Bài Ca Giáo Lý (30 bài) – XB 1983.
                                    CA THUẬT – Tài liệu viết tay – XB 1985
                                    ĐIỀU KHIỂN CA NHẠC - Tài liệu viết tay – XB 1985
100 bài soạn cho Orgue (phong cầm) hoặc để độc tấu hoặc để đệm cho các ca khúc của Hùng Lân .
Dịch cuốn “Âm nhạc trong những nền văn hóa ở Thái Bình Dương, cận Đông  Á Châu”  của tác giả William P. Main
NHẠC LÝ TÂN BIÊN (Di Cảo 1975-1986)




Hung Lan Biography


HUNG LAN
(Pierre Hoang Van Huong)
1922 – 1986

                                    Pseudonym:   Hung Lan
                                                         Nam Hoa     :  flower of the South VN
                                                          Lam Thanh  :  musical voice of the forest

LIFE AND WORK

I. LIFE - CAREER

6/23/1922: Born in Ha Noi, North of Vietnam, called Hoang Van Huong, the third child in a family of nine children;
1928 – 1933: Student at Gendreau College (later changed into Dung Lac), Ha Noi; Student of Ha Noi Puginier Friar College;
1931: was selected to join Ha Noi Church Choir;
1934 – 1941: Student at Hoang Nguyen Friar College, Ha Noi;
1942 - 1945:         Student of Ha Noi Saint Sulpice College;
Study music with catholic Priest P. Depautis and J. Bouis;
                  Conductor for Ha Noi Church Choir;
1945: Teach music at Nguyen Trai College, Ha Noi;
1948 – 1953: Teach music at Chu Van An College, Ha Noi;
1953: Join the Army. Served the psy-war college at Dept. No. 5 of Ha Noi Military 3rd Zone;
1955: servant for the Saigon Military Broadcasting;
1955: Demobilized, Manager of Diffusion Broadcasting General Group Saigon Sports and Youth Services;
1955 – 1965: Music Professor at Saigon Common Musical Ballet College; Participant of the Committee Founder & Board of Directors of Saigon National Drama and Music School; Teach Solfege from preliminary classes to professional classes;

1963: Bachelor of French Literature – Saigon University;
1964: Manager of Saigon “Broadcasting Dept. under the Saigon Ministry of Education;
1967 – 1968: attended an educational training course mainly in broadcasting & television at Syracuse University, New York – USA;
1971: received a culture educational 2nd award medal;
1971: music professor at Dalat Politic War College;
1972 – 1975: music professor at Dalat Politic Business College;

In September 1986, Hung Lan got a very bad illness due to old age and weakness. Hung Lan passed away on 09/17/1986 in memory and respect of family, relatives, friends and everybody.

II. ACHIEVEMENTS
1938: Tieng Goi Len Duong (Call in the army) - 1st composition;
1944: Viet Nam Minh Chau Troi Dong (Vietnam Brilliant Pearl of the East) & Rang Dong (Day break), got two 1st musical pieces award offered by Ha Noi Music Encouraged Association;
1945: member of “Le Bao Tinh” Musical Committee Founder & Leader until 1964; Publishing 16 Catholic notebooks titled “Cung Thanh” (over 350 songs);
1952: got 2 textbooks prizes offered by the Ministry of Education for (Am Nhac Lop De That & Am Nhac Lop De Luc textbooks); Attended the South East Asia Musical Conference organized in Manila, the Philippines;
1957 – 1970: establishment and leader of “Thien Thanh” Choir in co-operation with Saigon Diffusion Broadcasting & Military Diffusion Broadcasting;
1965 – 1967: Leader of “Singing Exercise Hour” in co-operation with Saigon Diffusion Broadcasting;
1969 – 1970: Establishment and leader of “Do Vui Nong Thon / Amusing Agricultural Quiz” in co-operation with Saigon Broadcasting House in Agricultural Fishery Development Program;
1969: from October carried out a weekly “Tim Hieu Dan Nhac Viet Nam /Comprehension of Vietnamese Traditional Music” on Tieng Noi Tu Do Broadcasting House. Up to February 1971 totally 75 programs then continued;
1970: from August carried out “Tim Hieu Dan Nhac Viet Nam /Comprehension of Vietnamese Traditional Music” on Vietnam Television Station. Up to February 1971 totally 8 programs then went on;
On August 15th, 1970 carried out the first “Lang Van” program named “Vietnam Children Music Foundation”;
1971: Co-operating with Mr. Pham Dinh Tan, a writer in “Tinh Viet Cultural” program on Vietnam Television Station;
1971: received the First Research Award offered by the President of the      Republic of Vietnam regarding the work “TIM HIEU DAN CA VIETNAM / Comprehension of Music Folklore” in the Art Literature nation wide Contest;
1973: Leader in the Sub musical committee in the College reorganized Program established by the Ministry of Education;

III . WORK:

1940: 82 catholic songs in 16 “CUNG THANH”    books;
43 pop songs as: Viet Nam Minh Chau Troi Dong / Rang Dong / Khoe Vi Nuoc / Tieng Goi Len Duong / Co Gai Viet / Mua Hop Tau / Nho Rung / Ca Xuan Hen Uoc / Xom Ngheo / Sau Lu Thu etc . . .
         Children songs: Em Yeu Ai? / Thang Ti Sun / Ong Trang Thu ect . . .;
         “Vui Ca Len” booklet;
“Dem Thanh Vo Cung” translated from “Silent Night”;
1969: 15 catholic songs influenced with traditional music air;
40 pop songs influenced with traditional music air: Duyen Tinh Mien Nam / Cai Co Lan Loi Bo Song / Kheu Ngon Den Loan / Thang Bom / Gio Thu (Tan Da's poem) / Dang Tho (Pham Dinh Tan's poem) / Ho Vong Co / La Hoi / Ho Oi Rang ect . . . (All were performed many times on Radio Broadcasting & Television Station);
“Truong Ca Tu Ngay” , Vietnamese authentic meditation about the mystery of Jesus Christ Incarnation (December 1970);

IV. TEXTBOOKS:

1950: “CAY DAN SONG” part I & part II. Western style Solfege teaching book. Ha Noi The Gioi publishing;
1952: Am nhac De That Grade. Ha Noi Tri Duc publishing;
Am nhac De Luc Grade. Ha Noi Tri Duc publishing;
Am nhac De Ngu Grade. Ha Noi Thien Thanh publishing;
Am nhac De Tu Grade. Ha Noi Thien Thanh publishing;
1954: Educational singing book: HAT MA HOC, HAT MA CHOI part I, II & III. Tieng Chim Xanh part I, part II;
1959: Basic Solfege book composing for Primary & Elementary class of      Hue, Saigon National Drama & Music School. Thien Thanh bublishing;
1961: “Nhac Ly Toan Thu” composing for Secondary, Intermediate, Advanced class of Saigon National Drama & Music School, Thien Thanh publishing; Giai Dap Cau Hoi Nhac Ly / Solutions to Solfegerie Questions”, 400 solutions patterns including overall Western Solfegerie, Saigon Thien Thanh publishing;
1962: “Nhac Hoa Am & Nhac Don Dieu / Harmony & Monotony Music”, dissertation about solfegerie regarding Vietnam traditional music. Saigon Thien Thanh Publishing;
1971: “Nhac Phap Pho Thong / Common Solfege”, Vietnam & Western Solfege book composing for Primary & Elementary classes of Saigon & Hue National Drama & Music School, and grade 6, 7, 8 & 9 high school, Saigon Thien Thanh publishing; “TIM HIEU DAN CA VIET NAM - Dissertation about solfegerie in Vietnam Traditional Music. 1st Research Award offered by the    President of the Republic of Vietnam in the 1971 Art Literature Nation wide Contest;
1972: “VUI CA LEN” - 100 Traditional Educating songs for youngsters used as “Quote” for “TIM HIEU DAN CA VIET NAM”, Saigon Thien Thanh publishing; “100 BAI DAN CA VIET NAM” used as “Quote” for “TIM HIEU DAN      CA VIET NAM”, approved; “DAN CA VIET NAM HOA AM” 100 folk songs (northern, central, southern) co-composing with  many authors & composing into different harmonies. Many among them received the Nation wide Art Literature Award;
1973 – 1986: Hung Lan had published three musical books titled “Ca Vang Loi Chua 1, 2, 3”; “Bo Le Bac Ninh - Le Thanh Man Coi”; “Bo Le Tuyen Khan”; “Nguyen Ca” published in 1974; “SU PHAM AM NHAC THUC HANH” (Tome I) - published 1974; “VUI CA HOC DUONG” - “Phat Thanh Hoc Duong” program - published in 1975; “XUONG NHAC - Part 1 & 2, published in 1974; “XUONG NHAC - Part 1 & 2 – Updated; “Bai tap XUONG NHAC / Xuong Nhac drills - Part 1 & 2 – Updated; “THUAT SANG TAC CA KHUC / Song composing techniques” - 1977; “Bai ca Giao Ly / Catholic lessons songs” (30 pieces) - published 1983; “CA THUAT” - Handwriting material - Published 1985; “DIEU KHIEN CA NHAC / Music Conducting” - Handwritten material - Published 1985; 100 lessons composed for Organ (solo or accompanied with Hung Lan' songs; Translated the book “Am Nhac trong nen van hoa o Thai Binh Duong  Music within the Pacific Culture proximity to the Eastern”, author William P. Main; “NHAC LY TAN BIEN” (posthumous 1975 – 1986);